Hệ số phát thải lưới điện Việt Nam: khái niệm, phương pháp và diễn biến giai đoạn 2019–2024

Cột điện cao thế trên nền hoàng hôn, minh họa hệ số phát thải lưới điện Việt Nam

Mỗi kWh điện tiêu thụ đều gắn với một lượng khí nhà kính nhất định phát sinh tại nhà máy điện. Để định lượng mối quan hệ này, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý sử dụng hệ số phát thải lưới điện. Đây là tham số được dùng thường xuyên nhất trong kiểm kê khí nhà kính của các tổ chức và trong tính toán lợi ích giảm phát thải của dự án năng lượng.

Hệ số phát thải lưới điện là gì?

Hệ số phát thải lưới điện (grid emission factor, EF) là lượng khí nhà kính, thường quy đổi về tấn CO₂ tương đương, phát thải trên mỗi đơn vị điện năng (MWh) được cung cấp từ hệ thống điện. Giá trị của hệ số phụ thuộc vào cơ cấu nguồn điện: hệ thống có tỷ trọng nhiệt điện than cao sẽ có hệ số lớn; hệ thống có nhiều thủy điện, điện gió, điện mặt trời sẽ có hệ số nhỏ.

Các loại hệ số phát thải lưới điện

Tùy mục đích sử dụng, có thể phân biệt một số loại hệ số:

  • Hệ số phát thải trung bình: tổng phát thải của các nhà máy điện chia cho tổng điện năng phát lên lưới. Loại này được dùng phổ biến để tính phát thải phạm vi 2 trong kiểm kê khí nhà kính cấp tổ chức.
  • Hệ số biên vận hành (operating margin, OM): phản ánh phát thải của các nhà máy sẽ giảm huy động khi có thêm nguồn điện mới hoặc khi nhu cầu giảm.
  • Hệ số biên xây dựng (build margin, BM): phản ánh phát thải của các nhà máy mới được xây dựng gần đây.
  • Hệ số biên kết hợp (combined margin, CM): bình quân gia quyền của OM và BM, được dùng để tính lượng giảm phát thải của dự án năng lượng tái tạo theo các phương pháp luận của Cơ chế phát triển sạch và các cơ chế tín chỉ.

Sự phân biệt này quan trọng: dùng hệ số trung bình cho tính toán dự án, hoặc ngược lại, có thể dẫn tới sai lệch đáng kể.

Phương pháp xác định

Tại Việt Nam, hệ số phát thải lưới điện được cơ quan quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu xác định và công bố hằng năm, dựa trên số liệu vận hành của hệ thống điện quốc gia: sản lượng điện phát của từng nhà máy, loại và lượng nhiên liệu tiêu thụ, cùng với hệ số phát thải của nhiên liệu theo hướng dẫn của IPCC. Phương pháp tính hệ số biên tuân theo công cụ tính toán hệ số phát thải cho hệ thống điện (Tool 07) của Liên hợp quốc.

Diễn biến hệ số của Việt Nam

Biểu đồ hệ số phát thải lưới điện Việt Nam từ 0,8458 tCO2/MWh năm 2019 giảm xuống 0,6592 năm 2023 và tăng lên 0,6810 năm 2024
Hệ số phát thải lưới điện Việt Nam 2019–2024. Đồ họa: Hội Địa lý môi trường Việt Nam

Giai đoạn 2019–2023, hệ số phát thải lưới điện của Việt Nam giảm liên tục, từ 0,8458 xuống 0,6592 tCO₂/MWh. Nguyên nhân chính là sự phát triển bùng nổ của điện mặt trời và điện gió từ năm 2019, cùng với các năm thủy văn thuận lợi giúp thủy điện được huy động cao.

Năm 2024, hệ số tăng trở lại lên 0,6810 tCO₂/MWh. Điều này phản ánh nhu cầu điện tăng nhanh, trong khi nguồn tái tạo mới bổ sung hạn chế và thủy điện chịu ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, khiến nhiệt điện than được huy động nhiều hơn. Diễn biến này cho thấy hệ số phát thải lưới điện không giảm một cách tự động mà phụ thuộc vào tốc độ phát triển nguồn sạch so với tăng trưởng nhu cầu.

Ứng dụng của hệ số phát thải lưới điện

  • Kiểm kê khí nhà kính: phát thải phạm vi 2 bằng điện năng tiêu thụ nhân với hệ số phát thải trung bình. Ví dụ, một cơ sở tiêu thụ 1.000 MWh điện năm 2024 có phát thải phạm vi 2 khoảng 681 tCO₂e.
  • Tính toán giảm phát thải của dự án: dự án điện mặt trời, điện gió, tiết kiệm năng lượng dùng hệ số biên kết hợp để xác định lượng giảm phát thải, làm cơ sở tạo tín chỉ carbon.
  • Đánh giá vòng đời sản phẩm: tính phát thải gắn với điện năng trong quá trình sản xuất.
  • Hoạch định chính sách: theo dõi tiến độ khử carbon của ngành điện, đánh giá tác động của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh.

Một số lưu ý khi sử dụng

  • Sử dụng hệ số của đúng năm kiểm kê; nếu chưa có, dùng hệ số mới nhất và ghi chú rõ.
  • Phân biệt phương pháp dựa trên vị trí (location-based) và dựa trên thị trường (market-based) theo hướng dẫn phạm vi 2 của GHG Protocol. Phương pháp dựa trên thị trường cho phép phản ánh điện tái tạo mua qua hợp đồng hoặc chứng chỉ năng lượng tái tạo.
  • Không dùng hệ số của quốc gia khác hoặc giá trị mặc định quốc tế khi đã có hệ số chính thức của Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao hệ số phát thải lưới điện thay đổi theo năm?

Hệ số phụ thuộc cơ cấu nguồn điện được huy động trong năm. Năm có thủy văn thuận lợi, thủy điện phát nhiều, hệ số giảm; năm khô hạn hoặc nhu cầu tăng mạnh, nhiệt điện than được huy động nhiều hơn, hệ số tăng. Việc bổ sung nguồn tái tạo mới cũng làm thay đổi hệ số.

Hệ số phát thải lưới điện của Việt Nam cao hay thấp so với thế giới?

Hệ số của Việt Nam ở mức trung bình đến cao so với thế giới do tỷ trọng nhiệt điện than còn lớn. Các nước có nhiều thủy điện, điện hạt nhân hoặc năng lượng tái tạo như Na Uy, Pháp có hệ số thấp hơn đáng kể. Điều này ảnh hưởng tới phát thải phạm vi 2 và phát thải ẩn trong hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Có thể tính hệ số theo giờ không?

Về nguyên tắc là có, nếu có số liệu vận hành chi tiết theo giờ. Hệ số theo giờ phản ánh chính xác hơn lợi ích của việc dịch chuyển phụ tải sang thời điểm có nhiều điện mặt trời, hoặc lợi ích của hệ thống lưu trữ. Đây là hướng nghiên cứu đang được quan tâm tại nhiều quốc gia.

Hệ số phát thải lưới điện được công bố ở đâu?

Hệ số được cơ quan quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu công bố bằng văn bản thông báo hằng năm, trước đây thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Người sử dụng nên tra cứu văn bản gốc để bảo đảm dùng đúng giá trị và đúng loại hệ số.

Kết luận

Hệ số phát thải lưới điện là cầu nối giữa chính sách năng lượng quốc gia và nỗ lực giảm phát thải của từng tổ chức. Theo dõi diễn biến hệ số giúp đánh giá thực chất tiến trình chuyển dịch năng lượng. Về mặt nghiên cứu, việc xây dựng hệ số theo vùng hoặc theo thời gian trong ngày là hướng đi đáng quan tâm, khi tỷ trọng nguồn điện biến đổi ngày càng lớn.

Tài liệu tham khảo

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông báo hệ số phát thải lưới điện Việt Nam các năm 2019–2023.
  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), Thông báo hệ số phát thải lưới điện Việt Nam năm 2024.
  • UNFCCC, Tool to calculate the emission factor for an electricity system (Tool 07).
  • WRI và WBCSD (2015), GHG Protocol Scope 2 Guidance.