Tăng trưởng xanh ở Việt Nam: mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược quốc gia giai đoạn 2021–2030

Toàn cảnh đô thị Hà Nội, minh họa chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam

Tăng trưởng xanh đã trở thành một định hướng chiến lược trong chính sách phát triển của Việt Nam hơn một thập niên qua. Sau Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011–2020, ngày 1/10/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050. Bài viết tóm lược nội dung chính của Chiến lược và một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện.

Khái niệm tăng trưởng xanh

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời bảo đảm tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường mà phúc lợi của con người phụ thuộc vào. Điểm cốt lõi của khái niệm này là tách rời tăng trưởng kinh tế khỏi suy thoái môi trường, tức là GDP vẫn tăng trong khi tiêu thụ tài nguyên và phát thải giảm, hoặc tăng chậm hơn.

Chiến lược của Việt Nam xác định tăng trưởng xanh là phương thức để thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa carbon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu.

Mục tiêu của Chiến lược

Bốn mục tiêu cụ thể của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh: giảm cường độ phát thải, xanh hóa các ngành kinh tế, xanh hóa lối sống, chuyển đổi công bằng
Bốn mục tiêu cụ thể của Chiến lược tăng trưởng xanh. Đồ họa: Hội Địa lý môi trường Việt Nam

Mục tiêu chung của Chiến lược là thúc đẩy tăng trưởng xanh góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, giảm phát thải khí nhà kính và giảm cường độ phát thải, hướng tới nền kinh tế các-bon trung tính vào năm 2050.

Một số chỉ tiêu định lượng đáng chú ý đến năm 2030:

  • Cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP giảm ít nhất 15% so với năm 2014;
  • Tiêu hao năng lượng trên GDP giảm 1,0–1,5% mỗi năm;
  • Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 15–20%;
  • Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định ở mức 42%;
  • Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý theo quy định đạt 95%.

Tầm nhìn đến năm 2050, cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP giảm ít nhất 30% so với năm 2014, tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 25–30%.

Các nhiệm vụ chủ yếu

Giảm cường độ phát thải khí nhà kính

Nhiệm vụ trọng tâm là sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; phát triển năng lượng tái tạo; giảm phát thải trong nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý chất thải và các quá trình công nghiệp; nâng cao khả năng hấp thụ carbon của hệ sinh thái.

Xanh hóa các ngành kinh tế

Chiến lược hướng tới xanh hóa sản xuất trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; phát triển kinh tế tuần hoàn; phát triển hạ tầng xanh, giao thông bền vững; thúc đẩy các ngành kinh tế mới như công nghiệp môi trường, năng lượng sạch.

Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Nội dung này gồm phát triển đô thị xanh, thông minh, công trình xanh; thúc đẩy mua sắm công xanh; nâng cao nhận thức cộng đồng về tiêu dùng bền vững, giảm chất thải nhựa.

Xanh hóa quá trình chuyển đổi trên nguyên tắc bình đẳng, bao trùm

Chiến lược nhấn mạnh việc bảo đảm các nhóm dễ bị tổn thương, người lao động trong các ngành chịu tác động được hỗ trợ, tạo việc làm xanh và nâng cao khả năng chống chịu.

Các giải pháp thực hiện

  • Hoàn thiện thể chế, chính sách, trong đó có công cụ định giá carbon như thị trường carbon;
  • Huy động nguồn lực thông qua tài chính xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh;
  • Phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số phục vụ tăng trưởng xanh;
  • Nâng cao năng lực, truyền thông, hợp tác quốc tế.

Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030 (Quyết định 882/QĐ-TTg năm 2022) cụ thể hóa Chiến lược thành các nhiệm vụ, chương trình và phân công trách nhiệm cho các bộ, ngành, địa phương.

Những vấn đề đặt ra

  • Nhu cầu vốn lớn: đầu tư cho chuyển đổi năng lượng, hạ tầng và công nghệ xanh vượt xa khả năng của ngân sách nhà nước.
  • Hệ thống chỉ tiêu và thống kê: cần bộ chỉ tiêu theo dõi, đánh giá tăng trưởng xanh thống nhất ở cấp quốc gia và địa phương.
  • Năng lực địa phương: nhiều tỉnh, thành chưa xây dựng hoặc chưa triển khai hiệu quả kế hoạch hành động tăng trưởng xanh.
  • Sự tham gia của doanh nghiệp: doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế về nhận thức, công nghệ và vốn.

Câu hỏi thường gặp

Tăng trưởng xanh khác gì phát triển bền vững?

Phát triển bền vững là khái niệm bao trùm, cân bằng ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Tăng trưởng xanh tập trung hơn vào phương thức tăng trưởng kinh tế, nhấn mạnh tách rời tăng trưởng khỏi suy thoái môi trường. Có thể xem tăng trưởng xanh là một con đường để đạt mục tiêu phát triển bền vững.

Cường độ phát thải trên GDP được hiểu như thế nào?

Cường độ phát thải là lượng khí nhà kính phát thải trên mỗi đơn vị GDP. Chỉ tiêu này có thể giảm ngay cả khi tổng phát thải vẫn tăng, nếu GDP tăng nhanh hơn. Vì vậy, bên cạnh cường độ, cần theo dõi cả tổng lượng phát thải để đánh giá đầy đủ tiến trình hướng tới Net Zero.

Các địa phương thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh như thế nào?

Các tỉnh, thành phố được giao xây dựng và ban hành kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cấp tỉnh, lồng ghép vào quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Mức độ triển khai giữa các địa phương còn khác nhau, phụ thuộc vào nguồn lực và năng lực quản lý.

Làm thế nào để đánh giá tiến độ tăng trưởng xanh?

Bộ chỉ tiêu tăng trưởng xanh quốc gia gồm các nhóm chỉ tiêu về giảm phát thải, xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống và chuyển đổi công bằng. Việc thu thập số liệu định kỳ, minh bạch và có thể so sánh giữa các địa phương là điều kiện để đánh giá thực chất.

Kết luận

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030 thể hiện tầm nhìn dài hạn, gắn với cam kết Net Zero vào năm 2050. Hiệu quả thực hiện phụ thuộc vào việc cụ thể hóa thành các chính sách, chương trình có nguồn lực, hệ thống theo dõi đánh giá minh bạch và sự tham gia của toàn xã hội. Nghiên cứu khoa học về địa lý, môi trường có thể đóng góp vào việc đánh giá tiềm năng, xây dựng chỉ số và theo dõi tiến độ ở cấp vùng, địa phương.

Tài liệu tham khảo

  • Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050.
  • Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định 882/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030.
  • OECD (2011), Towards Green Growth.